Dự án 1143 Krechyet
Tàu sân bay lớp Kiev (dự án 1143 Krechyet) làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các tàu ngầm mang tên lửa chiến lược, tàu nổi và các chiến đấu cơ của hải quân trong các hạm đội của quân đội Nga.
Các tàu lớp Kiev có thể mang được 22 máy bay cường kích cất hạ cánh thẳng đứng Yak-38, 10 trực thăng Ka-27PLO, 2 trực thăng tìm kiếm và cứu nạn Ka-27PS cuối cùng là 4 chiếc Ka-27RLD. Kiev trang bị thang máy nâng đưa máy bay từ khoang chứa lên boong cất hạ cánh.
Một đặc điểm không thể thiếu các thế hệ tàu sân bay Liên Xô là được vũ trang mạnh với đầy đủ vũ khí chống hạm, chống ngầm, phòng không.
Từ thế hệ đầu tiên là tàu Moskva thì đến Kiev, đặc điểm này càng được hoàn thiện hơn với tổ hợp tên lửa chống tàu SS-N-12 Sandbox (“sát thủ diệt hạm” có tầm bắn lên tới 500km, mang được đầu đạn hạt nhân 950kt); hệ thống tên lửa phòng không SA-N-3 và 9K33 OSA; pháo phòng không Ak-630; pháo hạm 76,2mm.
Có bốn tàu sân bay lớp Kiev đã ra đời, mỗi tàu có những đặc điểm riêng biệt khác nhau chủ yếu tập trung vào khả năng chở thêm máy bay, thay đổi về hệ thống vũ khí và hệ thống điện tử.
Chiếc thứ hai, tàu Mink thì có thể tăng thêm 50% sức chứa máy bay nhờ việc sắp xếp lại boong chứa.
Với chiếc thứ ba và thứ tư (Baku và Novorossiysk) đều được thiết kế có thể đáp ứng cất hạ cánh cho các máy bay thế hệ mới như Yak-36P, Yak-38 và trực thăng Ka-27.
Ngoài ra, tàu sân bay Baku (sau này được đổi tên là Gorshkov) có thời điểm còn được coi là lớp tàu mới hoàn toàn bởi những cải tiến vượt bậc của nó.
Đầu tiên, phải kể đến hệ thống ra đa quét mạng pha, lắp đặt hệ thống tác chiến điện tử diện rộng, kết hợp hệ thống điều khiển và chỉ huy. Boang đáp máy bay được mở rộng tăng thêm khoảng 5m (đằng trước) so với ba chiếc kia.
Đồng thời, cùng với các thay đổi thiết kế và trang thiết bị điện tử thì vũ khí cũng có sự thay đổi lớn như: tăng thêm 4 ống phóng SS-N-12 Sandbox; gỡ bỏ hệ thống vũ khí chống ngầm SUW-N-1; tên lửa đối không SA-N-3 và 10 ống phóng ngư lôi cỡ 21inch.
Thay vào đó người ta đã lắp đặt hệ thống chống ngầm Udav-1 (60 quả), tổ hợp tên lửa phòng không 9K330 Tor, hai pháo hạm 100mm.
Dự án 1143.5 lớp Kreml
Dự án 1143.5 là chương trình phát triển tàu sân bay lớp Kreml với lượng choán nước khoảng 60.000 tấn lớn nhất trong các thế hệ HKMH của Liên Xô. Tàu sân bay lớp Kreml có khả năng tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên biển, dưới biển và trên không.
Đánh giá thiết kế của Kreml thì có nét bề ngoài giống với các tàu sân bay Mỹ tuy nhiên thay vì sử dụng máy phóng thủy lực thì Kreml được chế tạo với đường dốc có góc nghiêng 12 độ dùng cho máy bay cất cánh. Với thiết kế kiểu này thì tàu sân bay sẽ giảm bớt được chi phí nhiên liệu hơn so với việc dùng máy phóng.
Ngoài ra, trên boong dành cho máy bay có bộ phận hãm và bên mạn phải của con tàu là hai máy nâng để đưa phi cơ từ khoang chứa lên.
Tàu sân bay lớp Kreml được thiết kế để mang được 16 máy bay cất hạ cánh thẳng đứng Yak-41M và 12 máy bay đa chức năng Su-27K cùng các loại trực thăng săn ngầm Kamov.
Tàu sân bay Kreml cũng giống như các thế hệ “tiền bối” Moskva, Kiev được vũ trang hạng nặng với tổ hợp tên lửa chống hạm SS-N-19 Granit (tầm bắn 700km), hệ thống tên lửa phòng không 3K95 Kinzhal (24 ống phóng thẳng đứng, 192 tên lửa đối không), pháo phòng không Ak-630 và tổ hợp pháo/tên lửa Kashtan, hệ thống tên lửa chống ngầm Udav-1.
Chỉ duy nhất một chiếc thuộc lớp Kreml hoàn thành và đưa vào biên chế trong hải quân Xô viết, đó là tàu đô đốc Kuznetsov.
Tàu sân bay đô đốc Kuznetsov hiện tại đang phục vụ trong hải quân Nga, chở được 20 máy bay Su-27K (Su-33), 4 chiếc Su-25UTG, 4 Ka-27LD, 18 Ka-27LPO, 2 Ka-27S.
 |
| Tàu sân bay đô đốc Kuznetsov |
Trong khi chiếc thứ hai là Varyag đã không thể hoàn thiện được do những khó khăn về ngân sách sau khi Liên bang Xô viết tan rã. Năm 1998, Varyag đã được bán cho Trung Quốc, có nhiều nguồn tin cho rằng Trung Quốc mua Varyag để học tập kinh nghiệm chế tạo tàu sân bay.
Tàu sân bay lớp Ul’yanovsk – dự án cuối cùng
Năm 1973, Liên Xô bắt đầu tiến hành công việc thiết kế tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân (dự án 1153 OREL). Được miêu tả có lượng choán nước 80.000 tấn, có khả năng chở 70 máy bay.
Dự án 1153 có thể đã trở thành tàu sân bay lớn nhất và hiện đại nhất của hải quân. Tuy nhiên, sau đó dự án này đã bị hủy bỏ vì nhiều lý do khác nhau.
Năm 1984, cuối cùng thì chương trình chế tạo tàu sân bay cỡ lớn cũng được tái khởi động lại bằng dự án 1143.7 (lớp Ul’yanovsk). Về bản chất thì dường như 1143.7 là người anh em sinh đôi với 1153.
Ví dụ như tàu được thiết kế với lượng choán nước khoảng 79.000 tấn, có thể chở 70 máy bay hiện đại, sử dụng động cơ năng lượng hạt nhân.
 |
| Tàu sân bay lớp Ul’yanovsk |
Nếu đúng thời hạn thì con tàu sẽ được hạ thủy 11/ 1988. Nhưng điều kiện hoàn cảnh lịch sử đã không cho phép điều này xảy ra, chiến tranh lạnh kết thúc, dự án bị hủy bỏ 11/ 1991. Năm 1992, con tàu bị phá dỡ hoàn toàn, tính tới lúc đó người ta mới chỉ hoàn thành được 45% công việc.
Như vậy, dự án 1143.7 đã kết thúc quá trình phát triển của tàu sân bay Liên Xô.
Số phận các tàu sân bay còn lại sau khi Liên Xô tan vỡ
Sau khi Liên bang Xô viết tan vỡ, do các hậu quả từ thời hậu Xô viết để lại, cùng với các khoản nợ khổng lồ. Liên bang Nga có thời gian dài rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế kéo dài, ngân sách dành cho quốc phòng cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Việc duy trì các tàu sân bay vượt quá khả năng cho phép của nước Nga lúc đó.
Từ trước đó, năm 1990 lần lượt hai chiếc tàu Moskva và Leningrad đều bị đưa ra khỏi biên chế.
Năm 1994, tàu Kiev được cho nghỉ hưu. Tiếp đó, lần lượt tàu Mink và Novorossiysk cũng ngừng hoạt động. Duy nhất chỉ có tàu Baku được Ấn Độ mua lại, ngay sau đó phía Ấn Độ lại kí hợp đồng với phía Nga nâng cấp tàu Baku.
Được biết, tàu Baku sau khi nâng cấp sẽ đáp ứng khả năng cất hạ cánh máy bay MiG-29K hoặc Su-27K (Su-33).
“Hạm đội tàu sân bay” ngày nay của nước Nga chỉ duy nhất còn chiếc Admiral Kuznetsov là hoạt động./. |